Header Ads

Tin Hot

HƯỚNG DẪN CÁCH DÙNG THƯỚC LỖ BAN

HƯỚNG DẪN CÁCH DÙNG THƯỚC LỖ BAN 

Lỗ Ban tương truyền là ông tổ của nghề mộc đã được hoá thân thành Thánh đã phát minh ra cây thước Lỗ Ban




Cây thước Lỗ Ban có rất nhiều thuyết khác nhau liên quan đến xuất xứ của nó. Chỉ biết rằng trong Phong Thuỷ thì nó được ứng dụng để đo chiều dài trong thiết kế nhà cửa và âm phần…

Thước Lỗ Ban hiện đại

Lỗ Ban là ai? Lỗ Ban (hoặc) được xem là ông tổ của nghề mộc và nghề xây dựng. Có vài thuyết về lai lịch của ông. Lỗ Ban là thợ mộc giỏi của nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông) thời Xuân Thu (770-476 TCN). Tên ông là Ban (hoặc), họ là Công Thâu . Lỗ Ban nghĩa là “ông Ban người nước Lỗ”.

Tượng thờ Lỗ Ban ở Đài Loan. Chân tượng có khắc chữ

Xảo thánh Tiên sư , tức là Lỗ Ban Công .

E.T.C. Werner (A Dictionary of Chinese Mythology) cho rằng Lỗ Ban sinh năm 506 TCN. Cha là Công Thâu Hiền. Công Thâu Ban thuở trẻ là thợ giỏi về các loại vật liệu như gỗ, đá, kim loại. Năm 40 tuổi ông ở ẩn trên núi Lịch Sơn, tu luyện pháp thuật.

Một thuyết khác cho rằng Lỗ Ban là người Đôn Hoàng , Túc Châu (nay là huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc), thời Chiến Quốc (475-221 TCN). Ông có tài nghệ tinh xảo, chế tạo diều gỗ cho người ngồi trên đó bay đi do thám thành trì nước Tống.

Một thuyết khác lại cho rằng ông tên là Công Thâu Ban, thường gọi là Công Thâu Tử , vốn là con của Lỗ Mục Công (có sách chép là Lỗ Chiêu Công). Tương truyền Công Thâu Tử chế tạo nhiều loại máy móc, có thể dùng trong tác chiến, thí dụ như thang mây (vân thê) bắc lên tường thành để công phá thành. Mặc Tử là người chủ trương phản chiến, từng đánh bại Công Thâu Ban về kỹ thuật công phá thành. Sách Mặc Tử, thiên Công Thâu chép: “Công Thâu Ban làm thang mây cho nước Sở xong, sắp đem đi đánh Tống. Mặc Tử nghe tin, bèn đi suốt mười ngày mười đêm từ nước Lỗ đến kinh đô của nước Sở để yết kiến Công Thâu Ban. [...] Mặc Tử cởi đai lưng giả làm thành, lấy thẻ tre giả làm khí giới. Công Thâu Ban chín lần bày cách đánh thành giả ấy nhưng Mặc Tử chín lần cự lại. Công Thâu Ban dùng hết khí giới đánh thành mà Mặc Tử thì còn cách chống giữ. Công Thâu Ban chịu thua”.

Theo các thuyết trên, từ điển Từ Hải nói nên xem Lỗ Ban và Công Thâu Ban là hai người khác nhau. Trong dân gian thường truyền tụng về sự linh nghiệm của bùa Lỗ Ban, thước Lỗ Ban, v.v… Thợ mộc và thợ xây dựng thờ Lỗ Ban làm tổ sư, ngày vía là 13 tháng 6 Âm lịch.

Thước Lỗ Ban:


Lịch Sách Xuân Ât Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy cách sử dụng. Theo Thầy thì cây Thước có độ dài nhứt định là 5 tấc 3 chia cho 8 cung lớn. Mỗi cung lớn 6,5 cm lại chia thành 5 cung nhỏ, mỗi cung nhỏ dài đúng 1 phân.

Thước Lỗ Ban cổ

Thầy dặn dò kỷ là nếu quý bạn đọc đã có nhà cữa xây cất xong lấy thước đo thấy xấu thì sửa lại. Bằng như chưa cất nhà muốn đo cửa tốt thì lựa cung tốt mà làm khuôn cửa đúng ni tấc thì được mỷ mãn hơn. Khi đo bắt đầu đặt cây thước vào mí của mép cửa bên trái rồi đo lần sang mép cửa bên mặt. Luôn luôn phải đặt cung số 1 tức cung Quý Nhơn nằm phía tay trái, rồi đo lần qua tới chổ nào thì coi lời giải mà biết tốt hay xấu, đó là cách đo cửa nhà đã xây rồi. Nếu chưa xây cửa, thì quý bạn đo tới chổ cung nào tốt và hạp nhất thì dừng lại và ấn định cửa tới nơi đó sẽ xây. Quý bạn đọc nào lở xây cửa xấu, không đúng với thước Lỗ Ban nên tìm tới Thầy để Thầy chỉ dẩn cho cách cúng quảy sửa chữa lại để gia đình làm ăn phát đạt.

Mấy năm trước đó có nhiều gia đình thỉnh Thầy đến đo cửa đo nhà, ít lâu sau quả làm ăn phát đạt thật. Danh của Thầy nổi như cồn, khách hàng xếp lớp. Có người cho rằng Thầy có Bùa thiêng, cũng có người cho rằng Thầy nhờ có cái Thước Lỗ Ban Bát Trạch. Biết được Thầy có chỉ vẽ cách làm Thước Lỗ Ban thì cuốn Lịch Sách Xuân Aùt Mão được rất nhiều gia đình mua về làm tài liệu tham khảo và cũng đã có rất nhiều ngườiõ theo đúng hướng dẩn cuả Thầy mà làm Thước Lỗ Ban. Không hiểu tại Thầy dấu nghề hay do ngẫu nhiên trùng hợp mà không ít gia đình sau khi có cái thước Lỗ Ban trong tay là ngay mùa Xuân năm đó phải bỏ nhà cao bay xa chạy ra nước ngoài, một số khác vào trại tập trung cải tạo mút mùa, số còn lại thì cũng phải bỏ nhà bỏ cửa để đi kinh tế mới. Về sau biết được hoàn cảnh của Thầy cũng bi đát như khách sau ngày 30 tháng 4, cho nên không ai còn dám nghĩ là Thầy dấu nghề, mà cho rằng đó là do ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi. Thế nhưng khi đem 5 tấc 3 chia cho 8, số thành là 6 phân 5 ly và đem 6 phân 5 ly chia cho 5,

số thành là 1 đúng như hướng dẫn của Thầy thì quả thực sai số quá lớn. Cung này cách Cung kia cách nhau chỉ bằng sợi tóc mà sai số lớn như thế thì cái Thước Thầy hướng dẫn làm sao mà linh thiêng cho đặng ? Cho rằng lỗi tại nhà in, cây thước phải dài 5 tấc 2 mới đúng. Thì cứ coi như là 5 tấc 2, nhưng lấy độ dài này chia cho 8 rồi lại chia cho 5, số thành đúng 1 phân, thì cũng lại vẫn còn sai !

Ngay từ đời nhà Chu ( 257 năm trước Tây Lịch) cùng thời với triều đại Thục An Dương Vương nước Việt, con người đã biết dùng Chỉ và Phân theo hệ thống Bát Phân để làm đơn vị đo chiều dài. Một Chỉ dài 0,408 mét, có 8 Phân thì một Phân là 0,051 mét. Về sau từ con số đơn vị của Phân là 0,051 nhân cho 10 theo hệ thống Thập Phân thành con số 0,51. Cái thước dài 0,51m hay 51 cm lâu ngày trờ thành cái thước Lỗ Ban đồng hóa với tà thuật của các Thầy Bùa, Thầy Pháp. Mãi cho đến hơn 2000 năm sau, các nhà Thông Thái Sinh Cơ Lý Học mới giật mình bái phục khi tìm ra được Tần số của ngoại âm là 4,9 từ đó suy ra đơn vị Thời Gian là 1 sec / 4,9 = 0,20408. Biết được đơn vị Thời Gian, các nhà Toán Học tính ra được Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu là 40,8 bằng cách lấy 980 nhân với bình phương của đơn vị thời gian: 0,20408. Con số 0,408 chính là đơn vị Chỉ của nền Văn minh Thái cổ cũng chính là Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu tương đương với 2 lần trị số của đơn vị thời gian. Như vậy, cái thước mà người đời nay cho rằng đó là cái thước Lỗ Ban huyền diệu, mang nhiều sắc thái bùa phép, người đời xưa sử dụng để đo đạt có độ dài là 51 cm, phát xuất từ cơ sở tính toán khoa học của các nhà Khoa Học Thái Cổ. Mê tín dị đoan hay bác học thì lại tùy vào thái độ và trình độ của người sử dụng. Người mê tín thì cho rằng cái thước chính là chiếc gậy Thần Linh hiễn. là vì ít ra, sau khi đo đạt sửa chửa theo đúng hướng dẫn thì gia chủ có nhiều an tâm, hy vọng nhiều hơn, bớt được căng thẳng, giãm được ưu tư thì có thể né tránh được nhiều tai biến hậu quả có thể chết người. Người bác học thì cho rằng cái thước chỉ là phương tiện để đo đạt chính xác mà thôi. Theo lý thuyết về năng lực bá động thì các loài sinh vật luôn luôn chịu ảnh hưỡng của các làn sóng từ cấp thấp nhất là ngoại âm đến cấp cao nhất là siêu âm đặc biệt là làn sóng ngoại âm phát ra từ lòng đất là nguồn năng lực chi phối đời sống con người qua cơ sở vật chất là nhà cửa của họ. Theo tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư – Phần Dương Cơ Lý Học thì nhà cửa luôn luôn được xây dựng trên một nền cứng chắc và đủ rộng để chịu được toàn bộ trọng lượng của cái nhà. Sự liên kết của các nền nhà thành một khối chung sẽ tạo thành một tảng. Hỉnh thức thông thường của tảng là một lớp nền mỏng trải dài trên một vùng đất xốp, mềm, có thể so sánh với một thanh gổ trên mặt nước. Lòng đất luôn luôn phát ra làn sóng ngoại âm là hình thức nhỏ của địa chấn, cho nên tảng phải chịu ảnh hưởng và trở nên một tảng rung động. Trong sự rung động này có sự cộng hưỡng. Sự truyền làn sóng và sự phản hồi làn sóng tạo nên một hệ thống sóng đứng mà hai đầu tảng là hai đầu tự do tạo thành hai bụng của thoi sóng đứng. Ở chính giữa gọi là Nút không rung động giống y như hình ảnh của thanh gổ dài nhấp nhô hai đầu. Ngoại âm của đất có nhiều làn sóng tần số khác nhau và mức độ cộng hưỡng tùy sẽ thuộc vào độ dài, độ dày và độ rắn chắc của tảng, nhưng thường thì độ dài quan trọng hơn. Tảng dài thì có nhiều Nút và nhiều Bụng là vì một tảng dài rung động thì sẽ tạo xen kẻ thành nhiều Bụng và Nút . Mỗi vị trí này được gọi là Tọa Vị. Theo như tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư , nếu tọa vị là Bụng thì gọi là Tọa Vị Dương là nơi có sự rung chuyển cao độ. Nếu Tọa Vị là một Nút thì gọi là Tọa Vị Aâm là nơi sự rung động hầu như không có.

Cây thước Lỗ Ban 51 cm được chia thành 8 cung bằng nhau. Mỗi cung lại chia thành 5 cung nhỏ. 8 cũng có thể là con số của Bát Quái và cũng là thứ tự của hàng đơn vị từ 1 đến 8 thuộc hệ thống Bát Phân . 5 cũng có thể là Ngũ hành Kim, Mộc ,Thủy, Hoả , Thổ.

- Cung đầu tiên là Quý Nhơn Cung hành Mộc là cung Tốt .

- Cung thứ 2 là Hiểm Họa Cung hành Thổ là cung Xấu.

- Cung thứ 3 là Thiên Tai Cung hành Thổ là cung Xấu.

- Cung thứ 4 là Thiên Tài Cung hành Thủy là cung Tốt.

- Cung thứ 5 là Nhơn Lộc Cung hành Kim là cung Tốt.

- Cung thứ 6 là Cô Độc Cung hành Hỏa là cung Xấu.

- Cung thứ 7 là Thiên Tặc Cung hành Hỏa ( Kim ? ) là cung Xấu.

- Cung thứ 8 là Tể Tướng Cung hành Thổ là cung Tốt.

Riêng cung Thứ 7 có sách cho rằng hành Hỏa ( Thất Tai Hỏa cục ), nhưng cũng có sách thì cho rằng hành Kim ( Thất Tai Kim cục ). Xem kỷ lại thì cung này cũng là cung cư ngụ của sao Phá Quân.. Trong Tử Vi sao Phá Quân là Bắc Đẩu Tinh hành Thủy là Hung và Hao tinh chủ tán, nhưng trong Bát Biến Du Niên của phép địa lý Dương Trạch thì khẳng định Phá Quân hành Kim là chốn cư của Tuyệt Mạng cũng vốn hành Kim. Khoa Địa Lý cho rằng Sao Phá Quân nguyên là hành Kim mà cái Thước Lỗ Ban chỉ dùng cho Khoa Địa Lý cho nên có thể khẳng định được Thất Tai Kim cục có lý hơn là Thất Tai Hỏa cục. Theo hệ thống Bát Phân từ 1 cho đến 8 là số cuối của hàng đơn vị thì Cung thứ nhất và cung thứ 8 chắc chắn phải là 2 Bụng tức là 2 tọa vị Dương. Hai cung ở giữa là cung thứ 4 và thứ 5 là hai cung Tốt cho nên cung 4 và 5 cũng phải là 2 Bụng tức cũng là 2 tọa vị Dương. Còn lại là Hai Nút sẽ ở tại giữa cung 2 – 3 và giữa cung 6 – 7 vị chi tất cả là 4 Tọa vị Âm. Sự phân chia 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8 chắc chắn bắt nguồn từ Lý thuyết Aâm Dương Ngũ Hành mấu chốt của Thái Cực sinh Lưỡng Nghi- Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng – Tứ tượng sinh Bát Quái. . .

Như vậy, cây thước Lỗ Ban là Khoa Học hay Mê Tín, Dị Đoan ?, Pabongka Rinpoche tại trang 169 Trong tập Giải Thoát trong Lòng Tay Kim Cang Xuất Bản năm 1995 có dạy:

Kẻ ngu biết mình ngu, đích thị là hiền trí.

Ngu tự cho mình trí, mới thật là chí ngu.

Nguồn Gốc Về Lỗ Ban Tiên Sư: Sư họ Công Thâu, tự Y Trí, là thánh hiền nước Lỗ, tiên sư là người dân bình thường trong huyện Hưng Long, phủ Châu Long Hưng, nước Lỗ, cha ngài là Hàn Hiền, mẹ ngài là họ Ngô, ngài sinh vào năm thứ 3 Lỗ Định Công, vào giờ Ngọ ngày mồng 7 tháng 5 năm Giáp Mậu, vợ ngài họ Vân, hai người cùng nhau tạo dựng, đốn củi ở Hồng Châu, đến khi trong nhà phát tài, chiêu mộ dạy đệ tử, truyền sách quý cho con cháu đời sau, bản thư này vạn ứng vạn linh, tứ phương tùy hành.

Phương Phương Linh

Tiền Truyền Hậu Giáo

Bản sách bao gồm các phương thức Khai Sơn, Khai Hiệu, Phạt Mộc, Yểm Sát, Hạ Cột, Lập Trụ, Cơ Nội Thiết Thần, Thượng Lương, Đả Táo, Khởi Thủy, Khai Quang, An Quyển, Định Môn, vv….

Cần phải kế thừa được tinh hoa của sách rồi sau đó mới có thể truyền lại cho kẻ khác được, vận dụng các pháp 1 cách linh hoạt, người học phải ghi nhớ nếu làm sai mất linh.

——————————-

Yểm Sát Yểm Phạm Chú

Tập Chú Ngữ

Chú ngữ này cần phải học 7 ngày, mỗi ngày cần học vào lúc sáng sớm khi bước xuống giường, khi tập chú không được để cho người khác biết, đốt hương, đốt nến, thỉnh niệm 3 lần, từ 1 đến 7 ngày, trong thời gian 7 ngày nếu để người khác biết, sẽ mất linh, phải làm lại từ đầu.

Yểm Sát Yểm Phạm Chú Như Sau :

Phục Dĩ : Bất thị sinh cơ thị tử kê, thân xuyên ngũ sắc hoa mao y, thử kê lai lịch tòng hà khởi, đường tăng tây thiên đế lai đích, ngọc đế nương nương dụng lai khứ báo hỷ, lê dân bách tính dụng lai yểm sát, yểm phạm, thiên sát quy thiên giới, địa sát quy địa thần, hung thần ác sát, hùng kê điểm sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, hùng kê điểm hóa, trạch tiền trạch hậu, trạch tả trạch hữu, kính thần tượng, hùng kê thối phạm thối tượng, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, ngũ hành, phạm, phương, phạm sát nhất ứng điểm hóa.

Khởi Thủy Chú

Tập Chú :

Khởi thủy chú cần phải học 3 tháng vào các ngày 1, 15, mỗi tháng học mất 2 ngày, 3 tháng tổng cộng là 6 ngày, khi học thì học vào ngày 1,và 15, đều phải chọn giờ Hợi buổi tối mà bắt đầu, đốt hương 3 cây, nến 1 đôi, đèn 1 chiếc, và 1 cái bát nhỏ, dùng tay vẽ hiệu sắc lệnh lên bát miệng niệm chú tay đồng thời vẽ sắc lệnh, mỗi lần niệm 2 lần, niệm xong sau đó nuốt nước đã thư sắc lệnh vào trong bụng, trước khi tập chú cần tắm giặt thay quần áo, không được có ý niệm tà dâm, sau đó đốt tiền hóa vàng, miệng niệm khởi thủy chú ngữ, tay vẽ săc lệnh, tập chú khởi thủy có thể Yểm Phạm Sát, khu tà trục

yêu,nếu như không thành tâm sẽ không linh ứng

Khởi Thủy Chú Ngữ Như Sau

Phục Dĩ , thỉnh đáo thần thủy, tiên đáo phổ an đại cát, thử phương đại cát, thiên thị phổ an thiên, địa thị phổ an địa, phổ an đại thần thông thiên thượng, nhật dụng tại chưởng trung, ngô phụng phổ an, thân thân đáo thử, nhất thời thuyết khởi tiện khai công, thiên sát quy thiên, địa sát quy địa, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, mộc mã đại sát, viễn tiền yểm áp, ngô phụng thái thượng lão quân cấp cấp như luật lệnh.

Dùng tay vẽ sắc lệnh vào bát iệm tiếp : nhất điểm càn khôn đại, hoành dụng nhật nguyệt minh, bàn la sanh vạn tượng, ngũ phật định trung ương, tam thiên môn ngoại, hạo hạo thượng thương, thượng bảo hổ đế hoàng quan, thao thao giang thủy yếu hồi hoàn, tứ tư vạn lý cư, đông nhạc miếu thần, nam nhạc thổ chủ, tây nhạc miếu thầy, bắc nhạc thổ chủ thỉnh phó lô tiền, thụ nạp hương yên, hồng châu, đắc đạo, lỗ ban tiên sư, phục dĩ, hựu thỉnh lai Mỗ ….. thị môn tông, đính kính tam giáo thần phật, bản gia trấn trạch, trường sinh hưng long thô địa, hậu cung phật khánh đại nhân, chiêu tài đồng tử, tiến bảo lang quân, hạo vu cửu thiên đông trù, tư mệnh thái ất táo vương phủ quân

Hậu cung ngọc trì phu nhân, bàn tài đồng tử, vận thủy lang quân, tiên chính nhân luân, thượng hữu bàn cổ tiên sư, trung hữu bàn cổ tiên sư, hạ hữu bàn cổ tiên sư, mặc đẩu tiên sư thỉnh phó lô tiền, khởi thủy báo phạm, an kiếp lục giáp, khởi câu oạt địa, nhất thiết yểm phạm.

Chữ này dùng giấy vàng vẽ bằng kê huyết ( máu gà ) đem thiêu đi hòa vào trong bát nước thì mọi sự sẽ đại cát.

Tu Tạo Cấm Kị

Ngày Lỗ Ban Sát : Mùa xuân kị ngày Tý, Mùa hạ kị ngày Mão, Mùa thu kị ngày Ngọ, Mùa đông kị ngày Dậu.

Ngày Phủ Đầu Sát : Mùa xuân kị ngày thìn, Mùa hạ kị ngày Mùi, Mùa thu kị ngày Dậu, Mùa đông kị ngày Tý.

Ngày Đao Châm Sát : Mùa xuân kị ngày Hợi, Tý, Mùa hạ kị ngày Dân, Mão, Mùa Thu kị ngày Tị Ngọ, Đông kị ngày Thân, Dậu.

Ngày Mộc Mã Sát : Tháng 1 kị Tỵ, tháng 2 kị Mùi, tháng 3 kị Dậu, tháng 4 kị Thân, tháng 5 kị Mão, tháng 6 kị Tý, tháng 7 kị Dần, tháng 8 kị Sửu, tháng 9 kị Mão, tháng 10 kị Dần, tháng 11 kị Thìn, tháng 12 kị Ngọ

Khai Sơn Phạt Mộc Trị Sát

Phục dĩ, đệ tử đính kính, khai sơn tổ sư, phần hương bính chúc, tửu lễ hiến tế, chư thần hổi tỵ, thiên sát, địa sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, nhất bách nhị thập tứ vị hung thần ác sát các quy phương vị,

Phương Thức Dùng Khi Đảo Ngói Nhà

Phương pháp : Dùng đầu con dao cắm vào cốc rượu, sau đó đốt hương thắp nến, dùng 3 hộp tiền, trên tiền có chấm kê huyết ( máu gà ) hướng về bắc phương mà thiêu đốt, miệng niệm chân ngôn chú :

Phục Dĩ : thần thông hạo hạo, thánh đức chiêu chiêu, phàm thần hữu thỉnh, đệ tử bẩm cáo, thổ công thổ mẫu, địa hậu thiên cao, chủ gia tu tạo, vạn phúc lai chiêu, thiên sát quy thiên giới, địa sát thổ trung mai, niên tai nguyệt hàng, bách vô cấm kị, đệ tử niệm chú, chư thần hồi tỵ, đại cát đại lợi. Niệm chú xong liền thiêu 1 hộp tiền, niệm 1 câu chú xong liền thiêu 1 hộp.

Tập luyện chú :còn thiếu

Tu luyện trì đảo gia sát chú ngữ này cần mỗi tháng tập vào các ngày 9, 19, 29, chọn vào giờ Hợi bắt đầu khai thủy tế luyện, dùng 3 thứ thực phẩm cao cấp để cúng, mỗi thứ nửa cân làm tế phẩm cúng dường, dùng 3 chiếc đèn dầu treo trên tường.

Tác Pháp :

Giờ Hợi khai thủy tế luyện không được để cho ai biết, tự mình dâng cống phẩm lên bàn, hướng về phía 3 ngọn đèn trên tường khấu đầu bẩm cáo, hai tay chắp lại bằng vai, niệm chân ngôn chú ngữ tổng cộng 3 lần, niệm 1 lần thì đốt 1 hộp tiền, cần phải tập luyện trong 6 tháng, mỗi tháng tập luyện 3 ngày, 9, 19, 29, cộng lại là 18 ngày, đủ số ngày đó mới có thể sử dụng được chú.

Phụ Chú :

Cống phẩm không được thay đổi và phải giữ cho thật sạch sẽ, khi tế luyện xong có thể dùng giấy gói lại, học xong thì cống phẩm đó tự mình phải ăn không được cho người khác ăn.

Báo Phạm

Đong lấy 1 cân gạo, dùng 1 cái bàn gỗ để đối với phòng ốc, cầm gạo rắc vào trong lòng bát, trích lấy máu gà viết lên bùa, mỗi lần điểm 1 điểm, chữ Vũ 雨 điểm 1 cái, chữ Tiệm 漸 điểm 1 cái, chữ điểm 1 cái, sau đó cầm phù thiêu bằng hết vào trong bát nước rồi nuốt lấy, bên ngoài miệng niệm Báo Phạm chú ngữ.

Phục Dĩ : Phổ an tổ sư đại thần thông, niên niên nguyệt nguyệt tại gia trung, bất luận phàm dân bính tam sát, thần thủy lạc địa tận giai thông, thiên sát khởi, thiên sát thối, địa sát khởi, địa sát thối, niên sát khởi, niên sát thối, nguyệt sát khởi, nguyệt sát thối, nhật sát khởi, nhật sát thối, thời sát khởi, thời sát thối, phổ phật tọa trung đường, khủng bất kiến thái dương, đại địa y tát địa, hồng nhật chiếu trung ương, tín dân do khủng phần tiền phạm, táo tiền phạm, ốc tiền ốc hậu phạm, oạt cao điền đê phạm, đông phương mộc phạm, nam phương hỏa phạm, tây phương kim phạm, bắc phương thủy phạm, trung ương thổ phạm, đông ngũ lý, nam ngũ lý, tây ngũ lý, bắc ngũ lý, trung ngũ lý, ngũ ngũ nhị thập ngũ lý , Thối —— Thối ——- Thối —— đại lao áp sát.

*** Chỗ gạch ngang trong sách gốc chép như là mô tả đoạn đó hô cao lên như 1 bài ca vậy.

Quy cách làm do tổ sư truyền lại :

Đong 1 cân gạo, số gạo này do người cần yểm sát mang đến, có thể dùng để yểm sát, tiền bạc do gia chủ tùy ý đưa vào cúng tế, người yểm sát không được tranh chấp, nếu không thần chú sẽ mất đi sự linh diệu. Tập Luyện :

Tập yểm phạm chú ngữ cần tu luyện vào các ngày lẻ hoặc tháng lẻ như tháng 1, 3, 5 chọn ngày Tý rơi vào các ngày lẻ như ngày 1, 7, 9, 11, 13, 15, 17, 21, 23, 25, 27, và ngày 29. trùng vào các ngày Thiên Y. Khi tu luyện chọn giờ Hợi đốt hương, thắp nến, đốt tiền vàng mã, miệng niệm chú ngữ : Tiên thỉnh tổ sư, thiên thiên tổ sư, vạn vạn sư gia, đệ tử phụng thỉnh niệm chú.


Phục Dĩ : Lúc bắt đầu khởi niệm cần phải 3 lần, niệm đến 7 ngày thì nuốt nước vào bụng, sau này khi dụng chú sẽ rất linh, đó là sự luyện tập, còn không thì sẽ không linh.

Cấm kị : Trong thời gian tập chú cấm 2 người khác giới cùng phòng, trước khi niệm chú cần , tắm gội, tịnh khẩu, tịnh thân, không được có dâm niệm.còn thiếu

Cửu Long Hóa Cốt Thủy

Bị Hóc Xương, Hóc Dị Vật Có Thể Trị

Chú Ngữ : Cửu long tiên sư, cứu khổ cứu nạn, cửu long hóa cốt thủy, truyền thụ đệ tử, phụng thỉnh sư tăng, linh quan mã ngôn, hầu lung hóa đàm, tỉnh thủy đại than, thương hải mang mang, đệ tử tu thành, thiên khiếu thiên ứng, vạn khiếu vạn linh, ngô phụng thái thướng lão quân lệnh, cật cốt thủy, hóa cốt thủy, thiên thiên hóa lai trường lưu thủy, hầu lung hóa lai trường lưu thủy, đông dương đại hải thủy, tiên sư đáo, sư gia đáo, thiên thiên ngư thứ tựu hóa điệu, niệm xong dùng ngón giữa thư phù trong nước, rồi dùng nước đó uống.

Tập luyện : cách thức tập pháp này lẫn hình thức phù giống như Báo Phạm pháp, các ngày luyện tập cũng vào các ngày lẻ 1, 7, 9, 11…….. trùng với ngày Thiên Y, chọn vào giờ Hợi đốt nến thắp hương tập luyện, tập luyện thành sau đó có thể dùng pháp này trị bệnh được, 2 pháp Báo

Phạm và Long Hóa Cửu Cốt Thủy này là căn bản trong các pháp chữa bệnh của tổ sư.

Thôi Sinh Pháp Phù( Khó Sinh Dùng )

Chú Ngữ :


Nhất hóa cửu long thủy, nhị hóa vương mẫu thôi sinh thủy, tam hóa quan âm bình nội thủy, tứ hóa tây thiên hoa đà thủy.